Những người thoát khỏi tử vong sau cơn đột quỵ não, thường để lại di chứng nặng nề cả về thể xác, tâm thần cũng như là gánh nặng cho gia đình và xã hội… do chi phí điều trị quá lớn, đầu tư thời gian, tiền của cũng như đòi hỏi về kỹ thuật y học cao; khả năng hồi phục thấp khiến người bệnh mất khả năng lao động và cần phải có người chăm sóc thường xuyên...vì vậy, đột quỵ não là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu, trong đó, nhồi máu não chiếm khoảng 88% tổng số ca và điều trị tái tưới máu sớm, bao gồm sử dụng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và can thiệp lấy huyết khối cơ học - đã được chứng minh có hiệu quả vượt trội trong cải thiện tiên lượng, giảm tỷ lệ tử vong và giúp bệnh nhân phục hồi chức năng nếu được thực hiện kịp thời trong “thời gian vàng”- yếu tố then chốt quyết định khả năng hồi phục và giảm thiểu di chứng thần kinh nặng nề.
Khu vực phía Bắc, tỉnh Tuyên Quang (tỉnh Hà Giang cũ) là khu vực miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn về địa hình, giao thông và năng lực y tế tuyến cơ sở, hệ thống cấp cứu và điều trị đột quỵ trước năm 2023 vẫn còn nhiều bất cập. Dù các xã, phường hiện có 08 bệnh viện có khả năng triển khai điều trị tiêu sợi huyết, bao gồm: Bắc Quang, Vị Xuyên, Yên Minh, Đồng Văn, Quang Bình, Hoàng Su Phì, Bệnh viện Đức Minh và Bệnh viện Đa khoa Hà Giang, nhưng thực tế cho thấy chỉ duy nhất Bệnh viện Đa khoa Hà Giang có đủ năng lực thực hiện đầy đủ hai phương pháp điều trị tái tưới máu là tiêu sợi huyết và can thiệp lấy huyết khối cơ học.
Bắt đầu từ năm 2019, Bệnh viện Đa khoa Hà Giang đã là đơn vị đi tiên phong trong việc triển khai tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch, đến năm 2023, Bệnh viện tiếp tục phát triển kỹ thuật cao và triển khai can thiệp lấy huyết khối cơ học. Đây cũng là đơn vị duy nhất trong Tỉnh giữ vai trò trung tâm chỉ đạo chuyên môn, đào tạo và hỗ trợ hội chẩn từ xa cho các Bệnh viện tuyến cơ sở. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân nhồi máu não cấp được tiếp cận các phương pháp điều trị tái tưới máu trên toàn khu vực vẫn còn rất thấp, nguyên nhân chủ yếu là do năng lực chuyên môn của các Bệnh viện tuyến xã còn hạn chế, thiếu đội ngũ các bác sĩ được đào tạo chuyên sâu, thiếu quy trình điều trị chuẩn hóa và đặc biệt là khó khăn trong chuyển tuyến kịp thời do địa hình cách trở.
Đứng trước thực trạng đó, với sự chỉ đạo sát sao và hỗ trợ của Sở Y tế, cùng sự quản lý khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ, đề tài “Nghiên cứu nâng cao năng lực cấp cứu đột quỵ não tại các bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Hà Giang” (sau sáp nhập tỉnh, nay được hiểu là các Bệnh viện tuyến xã trên địa bàn khu vực phía Bắc, tỉnh Tuyên Quang) đã được xây dựng và được UBND tỉnh phê duyệt triển khai. Đề tài do Bệnh viện Đa khoa Hà Giang chủ trì thực hiện, nhằm mục tiêu chuyển giao kỹ thuật điều trị tiêu sợi huyết cho tuyến xã, hình thành mạng lưới cấp cứu đột quỵ não liên thông từ tuyến tỉnh đến mạng lưới y tế cấp cơ sở, góp phần rút ngắn thời gian tiếp cận điều trị, tăng tỷ lệ tái tưới máu kịp thời, giảm tải cho tuyến trên và nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt tại các khu vực còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế.
Trong quá trình thực hiện đề tài, các thành viên Ban chủ nhiệm đã sử dụng thiết kế nghiên cứu tiến cứu - can thiệp - đánh giá trước và sau trên đối tượng là bác sĩ, điều dưỡng và bệnh nhân tại 4 Bệnh viện tuyến xã được lựa chọn (Đồng Văn, Vị Xuyên, Quang Bình và Hoàng Su Phì). Cách tiếp cận mang tính thực hành và phù hợp với điều kiện y tế của khu vực miền núi, cụ thể gồm: Phương pháp định lượng (sử dụng các công cụ khảo sát theo Biểu mẫu để thu thập dữ liệu về thực trạng năng lực điều trị đột quỵ trước can thiệp, số lượng bệnh nhân được điều trị, tỷ lệ thành công và thời gian xử trí); phương pháp định tính (quan sát thực địa, phỏng vấn cán bộ y tế và người bệnh, đánh giá qua báo cáo chuyên môn và phản hồi sau đào tạo); phương pháp chuyên gia (tham vấn từ Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai và Sở Y tế để xây dựng nội dung tập huấn, quy trình chuyên môn và tiêu chí đánh giá phù hợp) và phương pháp can thiệp - huấn luyện (đào tạo lý thuyết và thực hành tiêu sợi huyết tại Trung tâm đột quỵ Bạch Mai, triển khai thực hành tại 04 bệnh viện tuyến xã, tổ chức hội chẩn từ xa có giám sát và hỗ trợ lâm sàng).
Sau gần 02 năm triển khai thực hiện, Ban chủ nhiệm đề tài đã đạt được các kết quả theo nội dung thuyết minh được phê duyệt: Xây dựng được 02 quy trình chuyên môn áp dụng tại tuyến xã (quy trình tiếp nhận và điều trị cấp cứu đột quỵ não; quy trình sử dụng thuốc tiêu sợi huyết và xử trí biến chứng); xây dựng 01 mô hình đào tạo và nội dung tập huấn thống nhất, dễ áp dụng tại tuyến xã; thiết lập được Bộ chỉ tiêu đánh giá năng lực điều trị đột quỵ tại tuyến xã (trước - sau can thiệp); thiết kế mô hình mạng lưới cấp cứu đột quỵ não liên thông từ cấp tỉnh đến mạng lưới y tế cấp cơ sở, có thể nhân rộng cho các tỉnh miền núi; đào tạo và cấp chứng chỉ cho 04 bác sĩ và 08 điều dưỡng tuyến xã có khả năng triển khai tiêu sợi huyết; thành lập 04 đơn vị đột quỵ và 10 đội cấp cứu tại 10 bệnh viện tuyến xã; tổ chức 03 hội thảo cấp tỉnh và 08 lớp tập huấn tại tuyến xã; đặc biệt đã thực hiện thành công điều trị tiêu sợi huyết tại 04 bệnh viện tuyến xã với các ca đầu tiên an toàn, đúng phác đồ (triển khai được trên 08 bệnh nhân tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch, dùng 11 lọ thuốc tiêu sợi huyết tại 04 bệnh viện tham gia đề tài).

Tập huấn Quy trình điều trị sợi huyết đường tĩnh mạch, xử lý biến chứng tại Bệnh viện tuyến xã
Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được thử nghiệm, ứng dụng và sử dụng trong thực tiễn quá trình triển khai tại 04 Bệnh viện tuyến xã của tỉnh. Cụ thể, đã triển khai thành công kỹ thuật tiêu sợi huyết tĩnh mạch tại tuyến xã, với các ca điều trị đầu tiên được thực hiện đúng quy trình, an toàn và không ghi nhận tai biến nghiêm trọng, đây là lần đầu tiên kỹ thuật cao này được thực hiện hiệu quả tại tuyến cơ sở ở một tỉnh miền núi. Đã thành lập và vận hành 10 đội cấp cứu và 04 đơn vị đột quỵ não tại các bệnh viện tuyến xã, với khả năng tiếp nhận, sàng lọc và kích hoạt quy trình xử trí ban đầu hoặc chuyển tuyến nhanh chóng theo mạng lưới đã xây dựng. Ứng dụng hiệu quả quy trình tiếp nhận và điều trị đột quỵ cấp do đề tài xây dựng, giúp rút ngắn thời gian xử trí, cải thiện tổ chức phân luồng, huy động lực lượng, phối hợp liên khoa trong Bệnh viện. Bên cạnh đó, hoạt động hội chẩn, chỉ đạo tuyến từ xa giữa Bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến xã đã được triển khai thường quy, qua đó hỗ trợ kịp thời các ca bệnh phức tạp, đảm bảo an toàn trong điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân đột quỵ não.
Qua các kết quả trên có thể nhận thấy khả năng và phạm vi ứng dụng kết quả đề tài là rất lớn, có tiềm năng ứng dụng rộng rãi và lâu dài trong nhiều lĩnh vực: Ứng dụng trong lĩnh vực y tế - điều trị đột quỵ não cấp, có thể nhân rộng mô hình triển khai tiêu sợi huyết tại tuyến xã cho các tỉnh miền núi hoặc khu vực khó khăn khác trên toàn quốc, bộ quy trình điều trị và nội dung đào tạo có thể sử dụng để chuẩn hóa năng lực đội ngũ y tế cấp cơ sở, phục vụ công tác chỉ đạo tuyến trong các chương trình quốc gia về phòng chống đột quỵ. Ứng dụng trong quản lý y tế địa phương, kết quả nghiên cứu hỗ trợ Sở Y tế và các bệnh viện xây dựng kế hoạch tổ chức mạng lưới cấp cứu đột quỵ, nâng cao năng lực phòng - chống - xử trí tai biến mạch máu não trong cộng đồng, hệ thống giám sát từ xa và nền tảng đào tạo có thể tích hợp trong hệ thống y tế thông minh hoặc chuyển đổi số y tế tuyến tỉnh. Ứng dụng trong giáo dục - đào tạo, mô hình và nội dung tập huấn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, bổ sung chương trình đào tạo liên tục (CME) cho cán bộ y tế tại các Trường học, Bệnh viện, Trung tâm y tế. Ứng dụng trong truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng, các tài liệu truyền thông được biên soạn và triển khai trong đề tài có thể tiếp tục được sử dụng lâu dài tại các trạm y tế xã, bệnh viện, phục vụ công tác giáo dục sức khỏe, nhận diện sớm dấu hiệu đột quỵ và gọi cấp cứu kịp thời.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đề tài cũng có tác động đối với điều tra cơ bản và quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường, góp phần nâng cao năng lực quản lý dịch vụ y tế cấp xã, đặc biệt tại các khu vực vùng sâu vùng xa, từ đó hỗ trợ chiến lược phân bố dân cư, hạ tầng và nguồn lực y tế theo quy hoạch tổng thể phát triển địa phương. Tăng khả năng tiếp cận y tế chất lượng cao của người dân khu vực nông thôn và miền núi, tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình lồng ghép quản lý môi trường, y tế, xã hội, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của tỉnh. Hạn chế nhu cầu di chuyển lên tuyến trung ương, từ đó giảm áp lực giao thông, giảm tiêu hao nhiên liệu và các tác động gián tiếp tới môi trường đô thị và tài nguyên vận chuyển y tế.
Đề tài đã xây dựng thành công một mạng lưới cấp cứu đột quỵ thống nhất và liên thông từ tuyến tỉnh đến mạng lưới y tế cơ sở, với hệ thống quy trình chuyên môn được chuẩn hóa. Bản đồ đột quỵ tỉnh Tuyên Quang tích hợp thông tin các bệnh viện có khả năng điều trị tái tưới máu, cùng số điện thoại hotline liên hệ nhanh. Hơn nữa, đề tài đã tổ chức 03 hội thảo quy mô toàn tỉnh và 08 đợt tập huấn chuyên sâu tại các bệnh viện tuyến cơ sở, giúp hơn 170 cán bộ y tế được đào tạo bài bản về nhận diện, tiếp nhận, chẩn đoán và xử trí đột quỵ cấp. Kiểm tra trước - sau đào tạo cho thấy sự cải thiện rõ rệt về năng lực chuyên môn, góp phần hình thành nguồn nhân lực có chất lượng, sẵn sàng vận hành mạng lưới một cách hiệu quả. Những kết quả này là nền tảng vững chắc để tiếp tục mở rộng và phát triển mạng lưới cấp cứu đột quỵ trên toàn tỉnh một cách đồng bộ, bền vững và hội nhập với mô hình chăm sóc đột quỵ hiện đại.
Việc triển khai thành công kỹ thuật tiêu sợi huyết và thành lập các đơn vị đột quỵ não tại tuyến xã đã mang lại những chuyển biến rõ rệt về chất lượng dịch vụ y tế cho người dân vùng cao. Người bệnh tại các xã vùng sâu, vùng xa nay đã có thể tiếp cận kỹ thuật điều trị đột quỵ hiện đại ngay tại địa phương, rút ngắn đáng kể thời gian vận chuyển và tăng cơ hội được điều trị kịp thời trong “thời gian vàng”. Đồng thời, việc phân bổ bệnh nhân hợp lý giữa các tuyến đã giúp giảm tải hiệu quả cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh, tối ưu hóa nguồn lực nhân lực và trang thiết bị trên toàn hệ thống y tế tỉnh. Không chỉ dừng lại ở hiệu quả bước đầu, đề tài còn tạo ra nền móng bền vững cho việc duy trì và mở rộng hệ thống điều trị đột quỵ ở cấp xã, thông qua cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ, chuẩn hóa quy trình chuyên môn, đặc biệt là xây dựng được các mô hình triển khai điển hình có thể nhân rộng. Đây là tiền đề để tiếp tục triển khai kỹ thuật tiêu sợi huyết tại các Bệnh viện của các xã còn lại, tiến tới hình thành mạng lưới chăm sóc đột quỵ toàn diện, hiệu quả và phù hợp với điều kiện vùng núi đặc thù.
Có thể khẳng định, với cách tiếp cận hệ thống, bám sát thực tiễn địa phương và triển khai đồng bộ từ tổ chức, chuyên môn đến đào tạo và quản lý chất lượng, đề tài không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân Tuyên Quang mà còn có ý nghĩa như một mô hình điểm - một trường hợp điển hình để các tỉnh miền núi, vùng khó khăn khác trên cả nước học tập, vận dụng và nhân rộng nhằm nâng cao năng lực cấp cứu đột quỵ não tuyến cơ sở. Đây là bước tiến quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu công bằng y tế và chăm sóc sức khỏe toàn dân. Đề tài cũng góp phần nâng cao nhận thức, giúp người dân hiểu biết rộng hơn về mối nguy hiểm của bệnh đột quỵ và các phương pháp điều trị, các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả, từ đó sẽ không còn nhiều người bệnh và gia đình phải đối mặt với hậu quả của đột quỵ não, để chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là của người cao tuổi ngày càng được nâng cao và cải thiện./.
Tác giả: Ngô Thị Diễm Khánh - Trung tâm KH,CN và ĐMST