Trong những năm gần đây cây cam, cây chè được xác định là những loại cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương trên cả nước. Việc trồng phát triển sản phẩm cam, chè không những đem lại thu nhập ổn định cho người dân, mà còn góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh, diện tích cây cam, chè suy giảm, một phần do xuất hiện sâu, bệnh hại gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cam và chè. Người dân thường sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, chế phẩm thuộc nhóm thuốc hoá học để phòng trừ sâu bệnh hại. Trong quá trình sử dụng, đa số người dân trồng cam chưa nắm rõ cách sử dụng và lựa chọn thuốc an toàn, dẫn đến việc lạm dụng thuốc hoặc sử dụng thuốc sai cách. Một số người trồng đã sử dụng thuốc trôi nổi trên thị trường, không rõ nguồn gốc, chất lượng không đảm bảo, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng trừ và an toàn cho sản phẩm; bên cạnh đó, sử dụng thuốc BVTV không đúng cách đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, môi trường và hệ sinh thái.
Trước thực tế đó, UBND tỉnh Hà Giang (trước khi hợp nhất với tỉnh Tuyên Quang) đã phê duyệt thực hiện đề tài "Nghiên cứu thử nghiệm chế phẩm nano bạc đồng trong sản xuất cam, chè an toàn trên địa bàn tỉnh Hà Giang" (nay là tỉnh Tuyên Quang), đề tài do Trung tâm Tư vấn Khoa học công nghệ tài nguyên môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện.
Đề tài thực hiện mục tiêu: Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm nano bạc đồng trong sản xuất cam, chè an toàn để thay thế và hạn chế thuốc BVTV vô cơ trong sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí và tăng khả năng chống chịu các điều kiện không thuận lợi của thời tiết, thổ nhưỡng, dịch bệnh trong thực tế sản xuất. Cụ thể: Thử nghiệm chế phẩm Nano bạc đồng cho 3 mô hình: 01ha cam sành, 01ha cam vàng, 01ha chè để thay thế cho thuốc BVTV trong phòng trừ một số bệnh hại, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí đầu vào và tăng hiệu quả kinh tế từ 10 - 22%. Qua đó, hoàn thiện quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm nano bạc đồng cho cây cam và chè trên địa bàn các địa phương trồng cam, chè.
Với các nội dung nghiên cứu: Điều tra tình hình sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ trong sản xuất cam, chè trên địa bàn các xã trồng cam (khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; điều tra tình hình sâu bệnh hại trong sản xuất cây cam, chè; điều tra thực trạng sử dụng thuốc BVTV đối với cây cam, chè; khảo sát ý kiến của người dân về nhu cầu sử dụng chế phẩm nano thay cho thuốc BVTV hoá học phòng trừ sâu bệnh trong tương lai; đánh giá chung về tình hình thực hiện các phương pháp phòng trừ bệnh hại đối với cây cam, chè); thực hiện thử nghiệm chế phẩm nano bạc đồng đối với cây cam, cây chè (lựa chọn địa điểm thực hiện mô hình; thực hiện thí nghiệm thử nghiệm chế phẩm nano bạc đồng đối với cây cam sành, cam vàng, cây chè; thực hiện trình diễn mô hình thử nghiệm chế phẩm nano bạc đồng cho sản xuất cam, chè an toàn thí nghiệm đại trà 02 vụ; đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện mô hình; hoàn thiện quy trình kỹ thuật sử dụng nano bạc đồng cho sản xuất cam, chè an toàn); tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và giải pháp nhân rộng mô hình.
Đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu, điều tra khảo sát như: Phương pháp điều tra số liệu; phương pháp bố trí thí nghiệm và xây dựng mô hình trình diễn; phương pháp lấy mẫu; phương pháp phân tích; phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế; phương pháp xử lý số liệu
Sau thời gian triển khai thực hiện, đề tài đã đạt được một số kết quả về lý thuyết và thực nghiệm: Điều tra tình hình sâu bệnh hại và các phương pháp phòng trừ trong sản xuất cam, chè. Kết quả điều tra, khảo sát trên địa bàn cho thấy, đối với cây cam thường xuất hiện 14 loại sâu hại (sâu đục thân, sâu đục cành, sâu đục gốc, sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh, rầy/bọ phấn trắng, rầy mềm, rệp muội đen, rệp sáp, bọ xít xanh, bọ trĩ, ruồi vàng đục trái, ngài chích hút, nhện đỏ) và 8 loại bệnh hại chính (vàng lá gân xanh, tàn lụi, vàng lá thối rễ, khô cành, bệnh loét, ghẻ sẹo, nấm muội đen, phấn trắng). Các bệnh hại trên cây chè thường mắc các loại sâu hại (Rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ trĩ, nhện đỏ, rệp muội, sâu cuốn lá, sâu cuốn búp, bọ hung nâu, mọt đục cành) và bệnh hại (Bệnh phồng lá chè, bệnh thối búp, bệnh đốm nâu, bệnh đốm xám, bệnh đốm mắt cua, bệnh đốm tảo, bệnh thối búp, bệnh khô cành). Mỗi loại sâu bệnh hại tác động khác nhau đến sinh trưởng và năng suất chất lượng cam, chè. Sâu, bệnh hại không những gây ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng của cây cam, chè mà còn làm tăng chi phí sản xuất do phải sử dụng thuốc BVTV, xử lý cành và cây bị sâu bệnh.
![]() |
![]() |
![]() |
Một số hình ảnh thực nghiệm trong triển khai mô hình chè Shan
Qua điều tra, để giảm diện tích cam, chè bị suy giảm người dân thường sử dụng nhiều biện pháp khác nhau đề phòng trừ sâu bệnh hại, bao gồm biện pháp chọn giống từ vườn sạch bệnh, cải tạo đất, chăm sóc cây và sử dụng các loại chế phẩm sinh học, hoá học,… đối với các loại bệnh thường gặp như Greening (vàng lá gân xanh), Tristexa (bệnh tàn lụi), vàng lá thối rễ và Rầy chổng cánh (Diaphorina citri); áp dụng các phương pháp trồng, chăm sóc xử lý bằng vôi bột và bón lót bằng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học trước khi trồng; tạo tán, tỉa cành để vườn thông thoáng, thường xuyên thăm vườn để phát hiện kịp thời cây bị bệnh, tiêu huỷ cây bị bệnh nặng không có khả năng phục hồi, sau đó xử lý bằng vôi bột và chế phẩm sinh học, trồng luân canh cây trồng khác từ 2 - 3 năm. Đối với các loại sâu hại truyền bệnh thì rệp muội là môi giới truyền bệnh, do đó ngoài các biện pháp trên, người trồng cần thực hiện cắt tỉa cành tạo bộ khung thông thoáng, ẩm độ thấp, bón phân cân đối, tưới nước hợp lý, tiêu huỷ những cây bị bệnh vàng lá greening để giảm nguồn bệnh lây lan sang những cây khoẻ, sử dụng bẫy tiêu diệt, sử dụng dầu khoáng để phun khi cây ra chồi non. Đồng thời các hộ trồng cam sử dụng thuốc BVTV sinh học, chế phẩm thuộc nhóm thuốc hoá học vì thuốc hoá học có giá cả phù hợp, tác dụng nhanh, có hiệu quả diệt sâu bệnh,… tuy nhiên, qua điều tra cho thấy nhiều người dân sử dụng thuốc chưa thấy tác hại của thuốc BVTV hoá học đối với sức khoẻ, môi trường.
Thực trạng sử dụng thuốc BVTV đối với cây chè: Người dân kết hợp nhiều biện pháp, trong đó có sử dụng thuốc BVTV có các nguồn gốc khác nhau như hoá học, sinh học, điều hoà sinh trưởng, thảo mộc. Đối với sâu hại chè, người dân sử dụng các loại thuốc BVTV như Anvado 100WP, Rholam super 50SG,… Đối với bệnh hại chè, người dân sử dụng các thuốc BVTV như Namotor 100SG, Anlia 600WWG,… Kết quả cho thấy số lần phun thuốc/vụ dao động từ 2 - 5 lần/vụ/1 loại thuốc, số loại thuốc dùng trong 1 vụ dao động từ 1 - 3 loại. Thực tế điều tra cho thấy nhiều hộ gia đình khi sử dụng thuốc BVTV chưa tuân thủ theo đúng quy trình phun và thời gian cách ly, chưa tuân thủ đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách.
Bên cạnh đó, đề tài đã điều tra ý kiến của người dân về nhu cầu sử dụng chế phẩm nano, kết quả khảo sát cho thấy, số hộ biết về hiệu quả của chế phẩm nano trong phòng trừ bệnh hại nói chung, cây cam và cây chè nói riêng còn rất hạn chế. Nguyên nhân là do người trồng cam và trồng chè không biết về tác dụng của chế phẩm nano trong phòng trừ bệnh hại và lo ngại việc sử dụng chế phẩm nano sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm cam. Ngoài ra, người trồng cam và trồng chè cũng lo ngại việc sử dụng chế phẩm nano sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của con người và dịch bệnh. Trước thực tế đó, Ban chủ nhiệm đề tài đã thực hiện thử nghiệm chế phẩm nano bạc đồng đối với cây cam, chè tại các hộ dân có nhu cầu thử nghiệm tham gia mô hình, có hiểu hiểu biết về kỹ thuật,… địa điểm thực hiện tại xã Vĩnh Phúc đối với vườn cam sành trong thời kỳ kinh doanh 12 năm tuổi có bộ khung tán phát triển ổn định, tán cây phân bố đồng đều, vườn cam trồng trên đồi thấp có độ dốc 15o; thí nghiệm cam Vàng thực hiện tại vườn cam 1,5ha trong chu kỳ kinh doanh 9 năm tuổi, bộ khung tán phát triển ổn định, tán cây phân bố đồng đều; mô hình thí nghiệm và trình diễn đối với cây chè Shan, vườn chè có chu kỳ kinh doanh 30 tuổi, cây sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất ổn định.
Kết quả sử dụng chế phẩm nano bạc đồng phun cho cây cam Sành, cam Vàng và chè Shan giai đoạn kinh doanh ở tất cả các công thức thí nghiệm đều cho năng suất và thu nhập cao hơn so với công thức đối chứng. Đối với cam Sành, năng suất và thu nhập hỗn hợp tăng tương ứng 15,91% và 19,43%, cam vàng là 15,25% và 16,36% và chè Shan là 11,96% và 17,05% Chất lượng cam, chè đảm bảo an toàn cho người sử dụng, hàm lượng kim loại nặng (As, Cd, Pd, Hg) đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép và không tồn dư thuốc BVTV. Việc phun chế phẩm nano bạc đồng cho cam, chè đem lại hiệu quả trong việc phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ, vàng lá gân xanh cho cam Sành và cam Vàng; bệnh ghẻ sẹo đối với cam Vàng, bệnh phồng lá chè… Hàm lượng kim loại nặng, dư lượng thuốc BVTV trong cam, chè đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Kết quả phân tích cam, chè có phát hiện chủng nấm Fusarium oxysporum, nấm Phytophthora spp. đối với cây cam và nấm Alternaria spp., Phytophthora spp. đối với cây chè. Việc phòng trừ bệnh hại đem lại hiệu quả rõ rệt, từ đó góp phần nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững cho gia đình ở nông thôn và hạn chế việc chuyển quyền sử dụng đất. Canh tác cam, chè có gian che phủ đạt mức cao (trên 80%), giảm xói mòn, rửa trôi.
Như vậy, sau thời gian triển khai thực hiện đề tài đã đề xuất được 03 quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm nano bạc đồng cho cây cam Sành, cam Vàng và chè Shan. Để nhân rộng mô hình sử dụng, chế phẩm nano bạc đồng trong sản xuất cam, chè an toàn cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau: Giải pháp chính sách, giải pháp nâng cao hiệu qủa sử dụng chế phẩm nano bạc đồng đối với cây cam, chè, giải pháp về đào tạo, tập huấn, giải pháp về cơ sở hạ tầng, giải pháp thị trường, giải pháp tuyên truyền, giải pháp về khoa học công nghệ.
Để đảm bảo hiệu quả sử dụng chế phẩm nano bạc đồng đối với cây cam, chè, trong thời gian tới cần kiểm tra dư lượng nano bạc đồng trong đất, nước sau 2 - 3 năm canh tác và theo dõi ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đất và sức khoẻ người lao động. Thử nghiệm chế phẩm nano với phân bón hữu cơ để tăng hiệu quả bền vững. Bên cạnh đó, vận động đưa chế phẩm nano vào danh mục khuyến nông, hỗ trợ một phần chi phí cho nông dân, kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm cam, chè an toàn cho người dân trồng cam và đảm bảo sức khoẻ của người tiêu dùng./.
Ban biên tập


