
Bà Hồ Thị Phương Lan - Trưởng phòng Chuyển đổi số, sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh: PV)
Sau quá trình sáp nhập địa giới hành chính, hệ thống chính quyền số đã trở thành nền tảng quan trọng giúp tỉnh Tuyên Quang vận hành thông suốt bộ máy quản lý nhà nước, bảo đảm sự kết nối và đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Không chỉ dừng lại ở việc số hóa thủ tục hành chính, chuyển đổi số còn tạo ra những thay đổi thiết thực trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, từng bước xóa bỏ các vùng lõm sóng, tiên phong ban hành cơ chế hỗ trợ lực lượng công nghệ số cộng đồng và đặc biệt là đưa điện thoại thông minh trở thành “nông cụ số”, giúp người nông dân tiếp cận tri thức, mở rộng thị trường và nâng cao thu nhập.
Sau khi thực hiện chủ trương sáp nhập, địa bàn tỉnh Tuyên Quang được mở rộng với diện tích gần 14.000 km2. Điều kiện địa hình phức tạp, khoảng cách giữa các trung tâm hành chính tăng lên đáng kể, cùng với quy mô dân số gần 2 triệu người đã đặt ra một bài toán lớn cho công tác quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Theo bà Hồ Thị Phương Lan - Trưởng phòng Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tuyên Quang, trong điều kiện địa bàn rộng, dân cư phân tán sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, hệ thống chính quyền số đã trở thành nền tảng quan trọng bảo đảm các hoạt động quản lý nhà nước diễn ra thông suốt, liên tục. Nhờ đó, người dân và doanh nghiệp vẫn được tiếp cận các dịch vụ công thuận lợi, không gặp gián đoạn hay ách tắc trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.
Để đạt được điều đó, tỉnh Tuyên Quang đã chú trọng đầu tư hạ tầng số theo hướng đồng bộ, liên thông và hiện đại, mở rộng mạng lưới kết nối đến tận cấp xã, tạo nền tảng cho việc cung cấp các dịch vụ số hiệu quả và bền vững.

Mạng truyền số liệu chuyên dùng, hạ tầng internet băng rộng, trung tâm dữ liệu và nền tảng điện toán đám mây liên tục được củng cố để bảo đảm kết nối ổn định 24/7; Hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng hiện đã được triển khai đến 100% cơ quan, địa phương trên địa bàn tỉnh, bảo đảm hoạt động ổn định cho các hệ thống thông tin dùng riêng.
Nhờ nền tảng hạ tầng vững chắc, mọi hoạt động xử lý hồ sơ hành chính không bị gián đoạn, ngay cả tại các khu vực vùng sâu, vùng xa; Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến cũng được tích hợp và triển khai đồng bộ trên toàn tỉnh, kết nối thông suốt từ Trung ương đến cấp xã.
Giải pháp này đã làm tăng tính xuyên suốt trong khâu điều hành, giảm đáng kể thời gian và chi phí di chuyển của cán bộ giữa các cấp, nâng cao năng suất lao động và khắc phục được rào cản về khoảng cách địa lý.
Bên cạnh hạ tầng kết nối, vấn đề hợp nhất hệ thống thông tin sau sáp nhập được địa phương thực hiện nghiêm ngặt theo nguyên tắc “một hệ thống thống nhất – một dữ liệu dùng chung”.
Để bảo đảm hoạt động điều hành thống nhất và hiệu quả, tỉnh đã tích hợp, liên thông các nền tảng số trọng yếu như Cổng dịch vụ công, Hệ thống một cửa điện tử và Hệ thống quản lý văn bản, điều hành trên nền tảng LGSP, tạo nên hạ tầng kết nối đồng bộ phục vụ công tác quản lý và cung cấp dịch vụ công.
Dữ liệu chuyên ngành từng bước quy chuẩn, đồng bộ và kết nối để tạo thành một dòng chảy thông tin xuyên suốt. Việc này giúp cơ quan chức năng xử lý hồ sơ nhanh gọn hơn, tránh trùng lặp dữ liệu và giảm thiểu việc yêu cầu người dân phải cung cấp lại thông tin nhiều lần.
Việc áp dụng chữ ký số, hồ sơ điện tử và thanh toán trực tuyến đã trực tiếp giúp rút ngắn thời gian giải quyết công việc, giảm chi phí đi lại, điều này đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với người dân sinh sống ở địa bàn xa trung tâm hành chính.
Để kịp thời tháo gỡ những khó khăn về cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc tại cấp cơ sở sau sáp nhập, Sở Tài chính đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 88/2025/QĐ-CTUBND ngày 03/10/2025 về phân cấp thẩm quyền quản lý, sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.
Theo đó, UBND các xã, phường được trao quyền chủ động trong việc mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn, đặc biệt là các thiết bị cần thiết cho Trung tâm Hành chính công cấp xã. Cơ chế phân cấp này giúp các địa phương nhanh chóng bổ sung điều kiện làm việc, đáp ứng yêu cầu vận hành bộ máy và phục vụ người dân hiệu quả hơn.
Theo bà Lan, việc trao quyền chủ động cho cấp xã đã giúp quá trình trang bị thiết bị đầu cuối được triển khai kịp thời, sát với yêu cầu thực tiễn và bảo đảm hiệu quả đầu tư. Không chỉ giải quyết những nhu cầu trước mắt, cơ chế này còn góp phần hoàn thiện hạ tầng số ở cơ sở, tạo nền tảng để mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Trong công tác chỉ đạo, điều hành sau sáp nhập, khối lượng công việc gia tăng đòi hỏi sự thống nhất cao. Tỉnh đã đẩy mạnh ứng dụng các hệ thống điều hành thông minh và báo cáo số, giúp lãnh đạo các cấp có thể theo dõi, chỉ đạo kịp thời mà không bị gián đoạn do yếu tố địa lý.
Đáng chú ý, địa phương đã tổ chức cơ chế chấm điểm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, trong đó gắn trực tiếp với kết quả xử lý công việc trên môi trường số nhằm nâng cao kỷ luật hành chính.
Giải bài toán dữ liệu và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở
Khi bước vào mô hình quản lý mới, việc liên thông các cơ sở dữ liệu chuyên ngành như đất đai, y tế, dân cư phải đối mặt với nhiều áp lực. Bà Phương Lan nhìn nhận thẳng thắn rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay là kho dữ liệu của nhiều ngành trước đây được xây dựng một cách phân tán, trùng lặp, thiếu chuẩn hóa và tiêu chuẩn chưa đồng bộ.
Hơn nữa, cơ chế chia sẻ thống nhất chưa được hình thành trong khi khối lượng thông tin cần khai thác sau sáp nhập lại tăng lên rất lớn. Cùng với đó, cán bộ cấp xã phải gánh vác nhiều nhiệm vụ hơn trực tiếp từ tỉnh giao phó, đòi hỏi họ vừa phải vững nghiệp vụ vừa phải thành thạo công nghệ.
Để gỡ khó cho vấn đề này, tỉnh Tuyên Quang thực hiện việc hợp nhất các hệ thống thông tin theo bộ nguyên tắc “Đúng – Đủ – Sạch – Sống – Thống nhất – Dùng chung”.
Ngày 04/12/2025, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1458/QĐ-UBND chính thức ban hành danh mục Dữ liệu chủ chuyên ngành, Dữ liệu dùng chung và Dữ liệu mở của tỉnh. Bộ danh mục này bao gồm 42 cơ sở dữ liệu (CSDL) chủ chuyên ngành, 45 CSDL dùng chung và 22 CSDL mở.
Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP) được duy trì hoạt động ổn định. Đến nay, số dịch vụ đã kết nối từ bên ngoài với Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) là 19/22 hệ thống (còn 03 hệ thống chưa có tài liệu kỹ thuật hướng dẫn hoặc chưa có yêu cầu kết nối).
Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh vận hành ổn định, hạ tầng máy chủ và lưu trữ từng bước được ảo hóa, tiết kiệm chi phí đầu tư. Hiện tại, Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) của tỉnh đã được đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, có chức năng thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu đa ngành phục vụ công tác chỉ đạo của lãnh đạo các cấp. Sở Khoa học và Công nghệ đang trực tiếp triển khai thực hiện việc kết nối CSDL ngành Giáo dục và chia sẻ dữ liệu của ngành Tài chính với Trung tâm IOC này.
Để cán bộ cơ sở đủ sức vận hành khối lượng công việc đồ sộ, ngoài việc xây dựng kho dữ liệu dùng chung thông qua nền tảng LGSP, tỉnh ưu tiên triển khai các giải pháp công nghệ theo hướng “dễ dùng, dễ triển khai”.
Các phần mềm được thiết kế trực quan, tích hợp nhiều chức năng trên một nền tảng nhằm giảm thao tác cho cán bộ; Hệ thống hỗ trợ xử lý công việc ngay trên thiết bị di động, giúp cán bộ xã giải quyết nhiệm vụ nhanh hơn tại cơ sở; Công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cũng được đặc biệt quan tâm với nhiều hình thức linh hoạt, kết hợp cả trực tiếp và trực tuyến.
Tỉnh đã tổ chức hàng loạt lớp tập huấn về kỹ năng số, an toàn thông tin và cả trí tuệ nhân tạo (AI) trong giải quyết thủ tục hành chính cho cán bộ, công chức các cấp.
Cụ thể, trong 5 tháng đầu năm 2026, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức 18 lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số cho đội ngũ tại 45 xã, phường và hỗ trợ Tổ công nghệ số cộng đồng thuộc 16 xã. Song song đó, các tổ hỗ trợ kỹ thuật trực tuyến luôn được duy trì để kịp thời xử lý mọi tình huống phát sinh trong quá trình vận hành.
Hạ tầng đi trước một bước: Xóa dần các “vùng lõm sóng”
Đưa cáp quang và phủ sóng viễn thông trực tiếp đến các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới là một bài toán đòi hỏi nguồn lực kinh tế lớn. Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt trong chỉ đạo của tỉnh Tuyên Quang là “hạ tầng số phải đi trước một bước”. Bà Phương Lan nhấn mạnh, nếu không có một hạ tầng viễn thông và internet ổn định, sẽ rất khó để có thể triển khai thành công chính quyền số, kinh tế số hay xã hội số.
Tính đến thời điểm hiện tại, bức tranh hạ tầng viễn thông của Tuyên Quang đã ghi nhận những con số khả quan: Trên địa bàn tỉnh có tổng cộng 3.127 vị trí trạm BTS đang hoạt động; trong đó có 593 trạm 5G; 100% các khu vực trung tâm xã, phường đã được triển khai hệ thống hạ tầng internet cáp quang. Tỉnh cũng đã đầu tư trung tâm tích hợp dữ liệu và tăng cường ứng dụng công nghệ điện toán đám mây, qua đó bảo đảm các hệ thống số được vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả trên toàn địa bàn.
Dù hạ tầng số đã có nhiều bước phát triển, bài toán phủ sóng tại các khu vực vùng sâu, vùng xa vẫn đặt ra không ít thách thức. Hiện toàn tỉnh còn hơn 50 thôn nằm trong vùng lõm sóng thông tin di động. Trước thực tế đó, tỉnh đang phối hợp với Quỹ Viễn thông công ích Việt Nam và các doanh nghiệp viễn thông tập trung mở rộng vùng phủ sóng 4G, 5G và triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật nhằm thu hẹp khoảng cách số và bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận hạ tầng số thiết yếu.
Tuyên Quang tập trung ưu tiên nguồn lực vào các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những điểm trước đây sóng còn yếu hoặc chưa ổn định. Mục tiêu rõ ràng trong thời gian tới của địa phương là từng bước xóa sạch các “vùng lõm sóng”, tạo điều kiện để người dân ở bất kỳ địa bàn nào cũng có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ số thiết yếu như học trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa, thương mại điện tử cũng như dịch vụ công trực tuyến.
Đối với nhiều hộ dân ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số, chi phí mua sắm thiết bị thông minh cũng như duy trì kết nối internet vẫn là một trở ngại trong quá trình tiếp cận các dịch vụ số. Nhận thức rõ rằng chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi không ai bị bỏ lại phía sau, thời gian qua, Tuyên Quang đã phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông như VNPT và Viettel triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ.
Các chương trình tập trung vào việc cung cấp điện thoại thông minh với mức giá phù hợp, triển khai các gói cước viễn thông ưu đãi dành cho người dân ở khu vực khó khăn, đồng thời mở rộng mạng lưới điểm hỗ trợ sử dụng dịch vụ số tại cơ sở. Qua đó, từng bước thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, tạo điều kiện để người dân tiếp cận và khai thác hiệu quả các tiện ích của môi trường số.
Một trong những giải pháp mang lại hiệu quả rõ nét nhất trong việc đưa công nghệ vào đời sống là việc phát huy tối đa vai trò của 3.926 Tổ công nghệ số cộng đồng (CNSCĐ) tại các xã và thôn/bản. Trong điều kiện không có cấp huyện, địa bàn lại rộng với nhiều xã vùng cao, lực lượng này đóng vai trò cực kỳ quan trọng, được xem là “cầu nối số” gần dân nhất hiện nay.
Thành viên các tổ trực tiếp thực hiện phương châm “cầm tay chỉ việc”. Họ đi từng ngõ, gõ từng nhà để hướng dẫn người dân cài đặt các ứng dụng số, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa và trang bị kiến thức bảo vệ an toàn trên môi trường mạng. Thay vì ngồi chờ người dân tự tìm đến với công nghệ, các thành viên chủ động mang công nghệ đến tận nơi thông qua các sự kiện ngày hội số hay các đợt ra quân của thanh niên và lực lượng cốt cán ở địa phương.
Một điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai chuyển đổi số tại Tuyên Quang là không chỉ dừng ở việc hô hào thành lập các Tổ CNSCĐ mang tính phong trào.
Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành một Nghị quyết chuyên đề quy định việc hỗ trợ kinh phí hoạt động cho lực lượng Tổ CNSCĐ. Theo đánh giá của lãnh đạo chuyên môn, chính sách hỗ trợ kinh phí này giúp biến một hoạt động mang tính phong trào, tự nguyện đơn thuần trở thành một nhiệm vụ có chiều sâu, gắn với trách nhiệm cụ thể và mang tính bền vững cao trong dài hạn.
Không chỉ tập trung phát triển hạ tầng, Tuyên Quang còn đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm đưa chuyển đổi số đến gần hơn với người dân. Với đồng bào dân tộc thiểu số và người cao tuổi, các hoạt động tuyên truyền được thiết kế theo hướng trực quan, dễ hiểu, gắn với nhu cầu thực tế trong đời sống.
Ở nhiều địa bàn, cán bộ cơ sở chủ động sử dụng song song tiếng phổ thông và tiếng dân tộc trong quá trình hướng dẫn, giúp bà con tiếp cận công nghệ một cách thuận lợi hơn. Cách làm này không chỉ nâng cao hiệu quả tuyên truyền mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư.
Chiếc điện thoại thành “nông cụ”, làm giàu từ nền tảng số
Đối với trụ cột Kinh tế số, quá trình chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho ngành nông nghiệp của Tuyên Quang, đặc biệt là trong việc phát triển nông nghiệp sinh thái, quy hoạch vùng trồng và nâng tầm giá trị cho các sản phẩm đặc sản OCOP.
Sự phát triển của các công nghệ mới đã làm thay đổi chuỗi cung ứng truyền thống, giúp người nông dân chủ động hơn trong khâu sản xuất và tiêu thụ, giảm bớt sự phụ thuộc vào các khâu trung gian, từ đó từng bước hình thành nên tư duy mới “nông dân số”.
Chương trình OCOP được xác định là một điểm sáng giúp khai thác thế mạnh địa phương và xây dựng nông thôn mới nâng cao. Nhiều sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên đã được giới thiệu trên các sàn thương mại điện tử lớn của quốc gia như Tiki, Lazada, Shopee... giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng khắp mọi miền đất nước và hình thành chuỗi giá trị số cho đặc sản Tuyên Quang. Tính đến tháng 5/2026, toàn tỉnh vẫn đang duy trì 357 sản phẩm OCOP còn hiệu lực từ 298 chủ thể sản xuất.
Nhiều hợp tác xã và hộ kinh doanh đã thành thạo việc ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, sử dụng nhật ký sản xuất điện tử và tem thông minh. Các quy trình sản xuất cũng được nâng cấp áp dụng các tiêu chuẩn cao như VietGAP, tiêu chuẩn hữu cơ, HACCP, ISO,... nhằm bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, minh bạch nguồn gốc và nâng cao khả năng cạnh tranh.
Điều đáng chú ý hơn cả là tại các xã, phường, người nông dân đã thực sự làm chủ được công nghệ. Họ dùng chiếc điện thoại thông minh quen thuộc thành một loại “nông cụ” thời đại mới để làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương. Các nền tảng số không chỉ giúp bà con học hỏi kỹ thuật nông nghiệp mà còn là nơi để bán hàng online, livestream giới thiệu sản phẩm trực tiếp, cập nhật đơn hàng và xây dựng thương hiệu độc lập.
Điển hình cho sự bứt phá này phải kể đến mô hình tại xã Lâm Bình. Xã đã mạnh dạn triển khai Đề án thí điểm “Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030”. Đề án được tổ chức theo định hướng làng sinh thái - văn hóa truyền thống kết hợp nền tảng số, trong đó lấy các thôn Khau Cau, Nà Khậu, Bản Bon làm hạt nhân kết nối với khu vực lòng hồ.
Một sản phẩm độc đáo đang được địa phương định hướng phát triển mạnh là tour trải nghiệm “Một ngày làm YouTuber”. Hiện tại, trên địa bàn xã Lâm Bình đang có hơn 50 kênh YouTube và TikTok hoạt động sôi nổi, chuyên sản xuất các nội dung về đời sống vùng cao, ẩm thực dân tộc, lao động sản xuất, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán của đồng bào Tày, Dao, Mông.
Trong năm 2025, cộng đồng làm sáng tạo nội dung của xã đạt doanh thu hơn 40,7 tỉ đồng; nộp thuế vào ngân sách nhà nước đạt trên 896 triệu đồng. Việc kinh doanh nội dung số đã mang lại nguồn thu ổn định, giúp một số cá nhân đạt mức thu nhập đáng mơ ước từ vài chục triệu đồng đến vài trăm triệu đồng mỗi tháng.
Làn sóng sáng tạo nội dung và làm kinh tế số không chỉ diễn ra ở Lâm Bình. Trên địa bàn các xã, phường khác tại Tuyên Quang, người dân cũng đang sở hữu khoảng 50 kênh nội dung số lớn mạnh tại các khu vực như Thanh Thuỷ, Đồng Văn, Lũng Cú, Phường Hà Giang 1, Sơn Dương và Na Hang,... Các kênh này thu hút lượng theo dõi lớn, trở thành công cụ quảng bá văn hóa và sản phẩm địa phương cực kỳ hiệu quả.

Bên cạnh lĩnh vực nông nghiệp, các mô hình kinh tế số gắn liền với du lịch cộng đồng cũng nở rộ, nhất là tại các địa bàn có tiềm năng sinh thái như Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Đồng Văn, Na Hang, Lâm Bình, Sơn Dương,... Người dân và các hợp tác xã đã chủ động sử dụng nền tảng số để quảng bá dịch vụ homestay, ẩm thực địa phương và triển khai các hệ thống đặt phòng trực tuyến.
Tiêu biểu là mô hình tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú thuộc khu vực biên giới cực Bắc. Thông qua các ứng dụng số, người dân nơi đây đã tự quảng bá văn hóa bản địa, biến một trong những thôn nghèo nhất trước đây trở thành một điểm sáng về thu hút du lịch.
Theo đánh giá của bà Phương Lan, đây là những tín hiệu thực tiễn rất đáng mừng. Điều này minh chứng cho việc khi người dân được cung cấp hạ tầng kết nối đầy đủ và được hướng dẫn kỹ năng số phù hợp, công nghệ sẽ tự động trở thành công cụ đắc lực giúp họ nâng cao mức thu nhập và phát triển kinh tế bền vững ngay tại quê nhà. Việc phát triển kinh tế số hiện nay không chỉ là yêu cầu xu thế mà thực sự là cơ hội vàng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng miền núi và khu vực thành thị.
Với những nền tảng đã tạo dựng được, lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ chia sẻ kỳ vọng định vị Tuyên Quang trở thành một điểm sáng nổi bật về chuyển đổi số toàn diện tại khu vực miền núi phía Bắc. Trong 3 năm tới, mục tiêu lớn nhất của tỉnh là tạo ra sự bứt phá trong việc xây dựng chính quyền số gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế số và xã hội số, luôn lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm để phục vụ.
Đến thời điểm hiện tại, Tuyên Quang đã đạt được nhiều kết quả tích cực: hạ tầng viễn thông và internet phủ sóng tỷ lệ ngày càng cao đến vùng sâu vùng xa; các nền tảng số dùng chung được triển khai đồng bộ; Trung tâm IOC từng bước hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu; và các tiện ích như dịch vụ công trực tuyến, hồ sơ điện tử, thanh toán không tiền mặt đã thực sự đi vào đời sống hàng ngày.
Tuy nhiên, quan điểm của tỉnh rất rõ ràng: không chỉ dừng ở việc chạy đua ứng dụng công nghệ, mà mục tiêu cốt lõi là phải tạo ra những chuyển biến thực chất, tác động trực tiếp vào đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương.
Dựa trên quan điểm đó, trong giai đoạn tiếp theo, tỉnh Tuyên Quang xác định sẽ dồn lực tập trung vào ba hướng đột phá chiến lược trọng tâm:
Thứ nhất, phát triển kho dữ liệu số phục vụ điều hành: Tỉnh sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm sự kết nối và chia sẻ thông tin liền mạch giữa các lĩnh vực, sở ngành. Đặc biệt, Tuyên Quang sẽ tăng cường việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống phân tích dữ liệu chuyên sâu để hỗ trợ đội ngũ lãnh đạo ra quyết định một cách chính xác, nhanh chóng và kịp thời hơn.
Thứ hai, thúc đẩy kinh tế số dựa trên thế mạnh bản địa: Công nghệ số sẽ được đẩy mạnh ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực mà tỉnh có tiềm năng lớn như nông nghiệp, thương mại, du lịch và các sản phẩm OCOP. Tuyên Quang đặt kỳ vọng thông qua thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc số và các công cụ quảng bá, người dân ở khu vực nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số sẽ tiếp cận được các thị trường quy mô rộng lớn hơn nhiều so với trước đây.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nền xã hội số: Nhằm mục tiêu để người dân thực sự làm chủ không gian số, tỉnh sẽ tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả của các Tổ công nghệ số cộng đồng. Công tác phổ cập kỹ năng số sẽ được triển khai mạnh mẽ để bảo đảm người dân có thể sử dụng thành thạo và an toàn các dịch vụ như thanh toán trực tuyến, học tập, giải quyết thủ tục hành chính cũng như tiếp cận y tế, khám chữa bệnh từ xa.
Bà Hồ Thị Phương Lan bày tỏ niềm tin mạnh mẽ vào chặng đường sắp tới: “Với quyết tâm chính trị ở mức cao nhất, sự đồng hành nhiệt tình của các doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ, và quan trọng hơn cả là sự tham gia chủ động, tích cực của từng người dân, tôi tin rằng Tuyên Quang sẽ tiếp tục tạo được những bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong tiến trình chuyển đổi số. Đây chính là con đường thiết thực nhất để thu hẹp khoảng cách số giữa vùng núi và đô thị, hướng địa phương tới sự phát triển nhanh chóng và bền vững”.
Nguồn: https://baophapluat.vn/